Trong những khuôn mặt lớn của nền kiến trúc hiện đại thế kỷ XX, người đầu tiên mà giới nghệ thuật thường nhắc đến là Le Corbusier.
Le Corbusier tên thật là Charles Edouard Jeanneret (1887 - 1965), là kiến trúc sư, nhà quy hoạch
biệt thự vinhomes riverside thành phô và nhà lý luận hiện đại của nghệ thuật này. Ông gốc người Thụy Sĩ, nhưng gần như cả đời làm việc ở Pháp và nhiều nước khác trên thế giới. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã phấn đấu thực hiện những tác phẩm lớn nổi tiếng trong kiến trúc hiện đại ở Pháp, Ân Độ cũng như ỏ nhiều nước khác.
Từ những nãm 20 của thế kỷ này, ông hào hứng nghiên cứu quy hoạch thành phô Ville Contemporaine (thành phô hiện đại) 1922; Ville Radieuse (thành phô tươi sáng) 1935 ; mạt bằng cho thành phố Alger, thủ đô Algérie, 1930.
Đồng thời, ông nghiên cứu lý thuyết fonctionalisme (chủ nghĩa Công năng), chủ trương trong kiến trúc và quy hoạch thành phố phải phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng, phải tuân thủ chức năng thực tiễn. Trong tinh thần đó, ông đã hoàn thành nhiều đồ án cho nhiều đất nước. Ta có thể kể: các biệt thự ở Garches (1927), Poissy (1929 - 1931), phương án Cung Xô Viết ở Moskva (1928), Bộ giáo dục ở Rio de Janeiro cùng với Costa và Niemeyer (1938) v.v...
Sau chiến tranh thê giới thứ hai, ông tham gia thiết kê dồ án Trụ sở Liên hiệp quốc ớ New York (1947 - 1952).
Hình tượng kiến trúc của Le Corbusier có đặc chất của sáng tạo duy lý mà lại chứa đựng ngày càng rõ những xúc động điêu khắc trong biêu hiện.
Chất liệu xãy dựng mà Le Corbusier hết sức phát huy trong giai đoạn này là bê tông thô trần, đến nỗi sau những năm 50, nó trớ thành cơ sở cho cảm hứng của trường phái brutalisme (từ chữ béton brut trong tiếng Pháp mà ra), phát triển ớ nhiều nước. Ỏ đây ta có thê nhắc tới Unite d'habitalion (đơn vị nhà ở lớn), 1947 - 1952 ở Marseille và những khu công cộng ở Chandigarh, Ân Độ, 1954 - 1956 của Le Corbusier.
Có lẽ tác phẩm giàu chất thơ nhất sau đại chiến của ông là ngôi nhà thờ ở Ronchamp (1950 - 1954), được tạo dáng điêu khắc từ các chi tiết vô cùng mới mẻ.
Le Corbusier có ảnh hưởng hết sức lớn lao đối với kiến trúc hiện đại trên toàn thế giới. Mỗi giai đoạn thực nghiệm của ông đều gắn theo nhiều lên tuổi học trò và môn đệ, từ châu Âu, châu Á đến châu Mỹ Latinh.
Một số nhà nghiên cứu trong một sô' sách báo đã nhận định về Le Corbusier như sau:
"Di sản về kiến trúc nghệ thuật, lý luận và tài liệu mà Le Corbusier đế lại trong những đồ án thiết kế, những công trình trong lý luận, sách báo, tại tất cả các nước trên thế giới là tài sản của toàn nhân loại. Tên tuổi của Le Corbusier trở nên đồng nghĩa với tất cả những gì tiên tiến trong kiến trúc" (Tạp chí Kiến trúc Liên Xô số tháng 12-1965, bài viết của tiến sĩ kiến trúc Xô Viết Coli, bản dịch của Bộ Xây dựng, thông báo chuyên đề số 2, 3-1973).
"Từ những nãm 20, ở lớp tuổi ba mươi, Le Corbusier đã cụ thế hóa và xác định được một vị trí lý tưởng tuyệt đối trong một lĩnh vực khắc nghiệt và tuvệt đối. Lĩnh vực này liên hệ chặt chẽ với một triết học chính trị: chủ nghĩa Tập thể (Collectivisme) và với một tư tướng kinh tế: sự ưu thế của kỹ thuật công nghiệp" (Claude Parent và Patrice Goulet, Tạp chí Nghệ thuật và kiến trúc hiện đại sô' 51, sô' đặc biệt về Le Corbusier, tr. 1)".
"Le Corbusier đã vượt ra ngoài khuôn khổ của nhiệm vụ chuyên môn hẹp, phấn đấu cho những vấn để xã hội sâu sắc. Rất đáng chú ý ở ông là sự phê phán sắc sảo, không thương tiếc đôi với điểu kiện sông tồi tàn trong các thành phô của thế giới tư bản. Tât nhiên nhà nhân văn lớn này không hiểu rằng trong điều kiện đất đai là của riêng thì những giải pháp xây dựng đô thị dũng cảm của ông không thê thực hiện được nếu không có những sự đổi thay chính trị quyết định" (Lời tựa cuốn Le Corbusier).
Le Corbusier đã đề ra trong những năm 30 một kiểu nhà ở lớn độc
đáo: một ngôi nhà ở tập thể bao gồm nhiều hộ nhỏ, riêng biệt (immeuble -
villas). Từ kiểu nhà này, về sau tác giá còn phát triển thêm những
kiểu khác đa dạng hơn. Ta nhận thấy một phương thức ở mới mang tính
chất tập thể, một tầm vóc mới về nhà ở đã ra đời (nhưng từng gia đình
với yêu cầu tự do cá nhân vẫn được bảo đảm). Cảm hứng về những ngôi nhà
lớn như những con tàu này bắt nguồn từ một số hình thức kiến trúc cổ
nước Ý mà bóng dáng của nó đã khắc sâu vào tâm trí của Le Corbusier từ
năm 1907, khi ông đi qua vùng Toscan trữ tình của nước này. Một đơn vị
nhỏ của ngôi nhà này đã được Le Corbusier tách ra và xây dựng trong
"Triển lãm nghệ thuật trang trí năm 1925 ở Paris" (Các đại biểu quốc tế
đề nghị trao giải thưởng cho công trình này trong khi đại biểu Pháp
phát biểu: "Đây khổng phải là kiến trúc").
Nhấn mạnh tầm quan trọng
của quy hoạch đô thị, coi đó là chìa khóa đê mở rộng các hoạt động xây
dựng, Le Colbusier đã đưa vào đẳng thức có tính nguyên lý do ông đề ra:
"Nghệ thuật tạo hình = Sinh học = Toán học" để để ra các phương án quy
hoạch thành
phô' ba triệu dân, phương án cải tạo trung tâm
Paris và phương án Thành phô tươi sáng. Ông chủ trương thay thế cách
xây dựng hiện tại vốn hỗn loạn, kỳ dị và vô nghĩa bằng cách xây dựng
làm sao cho thành phố trở thành có quy luật, có trật tự, có hệ thống
giao thông điều hòa, tràn ngập cây xanh và ánh sáng.
Từ phương án
quy hoạch Thành phô' tươi sáng (1930) có tính chất lý thuyết, với sự
phân vùng công năng rõ rệt, có tính hình học sắc nét nhưng không hề
loại bỏ cái đẹp tự nhiên, Le Corbusier đã vẽ các phương án quy hoạch cụ
thể cho nhiều thành phõ của nhiều nước: Quy hoạch Anvers (1933), quy
hoạch Alger (1930), quy hoạch Nemours, Bắc Phi (1930), quy hoạch
Hélocourt (1935), rồi Rio de Janeyro, Saint Dié, Stockholm.
Nhưng
người ta đã từ chối ông ở nhiều nơi. Khi ông rời Alger vào một ngày
tháng 7 nãm 1934, Le Corbusier đã phải nói: "người ta đã đóng hết các
cửa đối với tôi...". Chỉ có Ân Độ sau này là chấp nhận ông và tạo cho
ông điều kiện để lại một đồ án quy hoạch có tiếng vang lớn trên thế
giới.
Về mảng nhà công cộng lớn trong thời kỳ chiến tranh thê' giới
thứ hai, Le Corbusier có những phương án gây nên một làn sóng xôn xao
dư luận ở các nước như: đồ án Trụ sở Hội quốc liên ở Geneve (1927),
phương án Cung Xô Viết ở Moskva (1931) và phương án Bảo tàng nghệ thuật
hiện đại ở Paris (1935). Ông đã xây dựng một nhà làm việc ở Moskva
(1928) và tòa nhà Thuỵ Sĩ ở Trưòng đại học Paris (1932) với một bút
pháp độc đáo và tiến bộ với sự phân bô các bộ phận mặt bầng theo công
năng. Mặt khác, kiến trúc và phong cách rất gắn bó với nhau. Xứng đáng
đóng vai trò một thiên nhiên thứ hai, tác phấm của Le Corbusier đã nổi
bật lên trong cuộc thi.
Đối với phương án sử dụng cho Cung Xô Viết
(Moskva, 1931) Le Corbusier cũng từ bỏ cách bô' cục cả gói, mà thiết kế
kiểu mặt bằng phân bô theo chức nãng, tạo nên một nhịp điệu mạnh mẽ,
một sự vận dộng linh hoạt của cấu trúc, hình khôi.
Tòa nhà Thuỵ Sĩ ớ
Trường đại học Paris là một tác phẩm mẫu mực khác của Le Corbusier về
cách xử lý. Sự chính xác và tính phóng khoáng ở đây được kết hợp khéo
léo, cách thiết kê mặt dứng nhấn mạnh sự phân cách và tương phản, nhấn
mạnh chất cảm của các loại vật liệu và cách điệu hóa các bộ phận kiến
trúc ở đây đã chứng tỏ tài nghệ bậc thầy cua tác giả.
Trong thời
gian chiến tranh thế giới thứ hai, Le Corbusier vẫn viết nhiều công
trình nghiên cứu đê chuẩn bị cho tương lai. Ông nghiền ngẫm lại "nhà ở
chuyên tiếp" với vật liệu xây dựng rẻ tiền (bùn và rơm) dê dự kiến cho
thời kỳ sau chiến tranh. Ông tham gia Hội nhũng người cách tân kiến
trúc (ASCORAL: Assemblee de Constructions pour une Renovation
Architecturale) và đề ra phương châm: "Nhà ở là đôi tượng chính của
công tác quy hoạch và thiết kế kiến trúc".
Xem thêm :
bán biệt thự vinhomes riverside